NÉT THU SEN HỒ
Hồ sen
Nhu nhú nụ sen
Nõn nà
Thấp thoáng in lên mặt hồ
Nét cong Thu khéo hững hờ
Nón sen để ngửa
Ngu ngơ ngắm trời
Tưởng chừng mây lãng đãng rơi
Ngỡ gần …
Mà lại xa xôi mấy tầng
Yếm hồng
Hoa hé nửa chừng
Thì thầm gió thoảng
Ngập ngừng
Nói chi?
Hồ sen đương độ xuân thì
Ngạt ngào hương sắc
Tình si…
Nồng nàn
Thu ơi!
Xin nhẹ bước chân
Mặt hồ lặng sóng mỗi lần Thu qua
Vẫn là nụ
Vẫn là hoa
Vẫn là lá biếc
Mây sa trắng ngần …
18-9-2012
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012
Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012
KHÚC CA QUAN HỌ
* Những từ viết chữ IN HOA : TỰA ĐỀ MỘT SỐ LÀN ĐIỆU DÂN CA QUAN HỌ
* Những chữ viết đậm : Trích đoạn ca từ trong các bài dân ca quan họ.
Tháng giêng về trẩy hội Lim
Trèo lên quán dốc đi tìm NGƯỜI NGOAN
Thướt tha tà áo tứ thân
Nghiêng nghiêng vành nón ba tầm em trao
Gió ve vuốt dải yếm đào
Lơ thơ nước chảy, SÔNG CẦU anh qua
Mặn nồng ngồi gốc cây đa
Trúc xinh nắm áo, bước qua mạn thuyền
Vẳng nghe câu hát CÒN DUYÊN
TƯƠNG PHÙNG TƯƠNG NGỘ bạn hiền tìm nhau
TÌM NGƯỜI mắt sắc dao cau
Cái nhìn LÚNG LIẾNG cho nhau phải lòng
Người ơi, có nhớ ta không
Ta về ngồi gốc cây thông, đợi chờ
Trời thương thả bụi mưa nhòa
Nghiêng chung vành nón cho ta chụm đầu
Bồi hồi cởi áo trao nhau
Về nhà dối mẹ… QUA CẦU GIÓ BAY.
Gợi tình HÁT ỐNG nồng say
Đêm qua náo nức … gió lay tơ mành
Canh khuya NGUYỆT GÁC MÁI ĐÌNH
Chót say nhau lắm … có mình, có ta
Thôi thì buông áo em ra
Kẻo rằng KHÁCH ĐẾN CHƠI NHÀ đã lâu
Để em MỜI NƯỚC MỜI TRẦU
Liền anh, liền chị chung câu HÁT THẦM
Hẹn nhau GIỮA TỐI HÔM RẰM
Ngồi dồi SE CHỈ LUỒN KIM … cho cùng
Khéo khôn con nhện giăng mùng
Tơ vương RA NGÓNG VÀO TRÔNG đợi người
Tháng năm BÈO DẠT MÂY TRÔI
HOA THƠM BƯỚM LƯỢN giữ lời thủy chung
Người ngoan CHÍN ĐỢI MƯỜI TRÔNG
Đêm qua nhớ bạn vẫn không thấy người
Xin đừng CHIA RẼ ĐÔI NƠI
Em quên sao ánh mắt ai … em chờ
Ra về lưu luyến câu ca
Cho thêm bối rối thẫn thờ lòng anh
Hội tan, chiều lặn,… thôi đành
Nói lời GIÃ BẠN, chòng chành đò ngang
Em còn RA ĐỨNG CỔNG LÀNG
Trông sang Quan họ lòng càng ngẩn ngơ
Qua bao tháng đợi năm chờ
Nỗi riêng biết ngỏ bây giờ cùng ai ! …
Đừng về, người ở người ơi
Ướt đầm vạt áo … lệ rơi … khóc thầm
Thôi đành đến hội sang năm
Ngóng trông người ngọc … áo khăn hẹn hò… **
……
Giật mình nghe tiếng GỌI ĐÒ
Bàng hoàng chợt tỉnh giấc mơ nhân tình
-----------------------------------------------
** NHT mượn ý của đoạn ca từ trong bài " đến hẹn lại lên ":
... Ai đem người ngọc tung tăng chốn này,Khăn áo em gửi lại đây
Quan họ nghỉ chúng em ra về ... Đến hẹn lại lên ...
Xuân 2012
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012
Giao Mùa
Do trục trặc kĩ thuật, nên đã lâu NHT không có điều kiện đăng bài trên trang blog này. Gần đây việc đăng bài có thuận lợi hơn, NHT xin tiếp tục đăng một số bài đã viết gần đây để được chia sẻ cùng các bạn.

Đã nghe hơi thở Đông tàn
Tiếng đêm xao xác
Thương ngàn lá rơi
Ai tung mưa bụi
Trắng trời
Để nhành cây nhớ gọi mời nàng Xuân
Ấp e
Tà áo thanh tân
Ngậm hương nụ thắm
Tần ngần
Lá bay
Mơ hồ
Trong gió
Trong mây
Cánh chim tìm bạn mê say ngang trời
Giao mùa
Dạo khúc đầy vơi
Nghe trong sâu thẳm
Ngọt lời yêu thương …
3 – 1 - 2012
Nguyễn Hữu Thắng
Đã nghe hơi thở Đông tàn
Tiếng đêm xao xác
Thương ngàn lá rơi
Ai tung mưa bụi
Trắng trời
Để nhành cây nhớ gọi mời nàng Xuân
Ấp e
Tà áo thanh tân
Ngậm hương nụ thắm
Tần ngần
Lá bay
Mơ hồ
Trong gió
Trong mây
Cánh chim tìm bạn mê say ngang trời
Giao mùa
Dạo khúc đầy vơi
Nghe trong sâu thẳm
Ngọt lời yêu thương …
3 – 1 - 2012
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011
Tạm dừng đăng bài !
Không hiểu vì lý do gì mà đã hơn 2 tuần nay tôi không thể xem được blog của mình, nhiều blogger khác cũng thấy hiện tượng như vậy. vì thế mà tôi tạm ngừng đăng bài trên blog cá nhân này. Ai có cách khắc phục xin chỉ giúp. Xin chân thành cám ơn
Nguyễn Hữu Thắng
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011
Tháng Tám
Tháng tám
Nắng nhuốm vàng hoa cúc
Nắng thắp đỏ trái hồng
Nắng vắt vẻo cưỡi ngọn gió đồng
Đánh thức cặp má hồng thôn nữ
Rạo rực
Nụ hoa chớm nở
Lúng liếng
Em trao giọt nắng cười
Tháng tám
Biếc xanh một khoảng trời
Cánh đồng ngát xanh
Lúa đang thì con gái
Xanh vườn trầu
Buồng cau trĩu trái
Xanh câu hẹn thề
Thổn thức cả vầng trăng
Tháng tám
Ngọn gió dịu dàng
Thả giữa dáng chiều
Bồng bềnh chiếc lá
Mây rủ nhau về cuối trời trắng quá
Ta lại tìm em trong ngào ngạt hương đồng…
Tháng tám
Góc trời nào
Vẫn rình rập bão giông!
Tháng 8 năm 2011
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011
Cánh diều thuở ấy
Những năm đầu sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng 1954 có một bài ca mà tôi vẫn còn nhớ đôi câu rất thực với đời mà cũng lãng mạn vô cùng: “… Trăng lên lùa cành tre, gió thổi tiếng sáo diều, trăng soi cảnh miền quê, lúa ngợp đồng xanh … tương lai tựa vầng trăng, bé ngủ à ơi…”. Cái ánh trăng hòa bình đã trải tấm lụa vàng trên những cánh đồng bát ngát, trên những xóm làng đang đổi thịt thay da, và đọng lại trên những nụ cười hồn nhiên như con trẻ. Cái ánh vàng giữa mênh mông hư ảo, nâng những cánh diều bay cao để tiếng sáo vang ngân tới tận chân trời. Và có lẽ cũng ít nơi nào có tiếng sáo diều huyền diệu như quê tôi. Những ngày ấy tiếng sáo diều hòa quyện trong gió làm nên dàn hợp xướng khổng lồ giữa không trung cao thẳm. Năm nào cũng vậy, công việc cày cấy vụ mùa đã vãn, người dân quê tôi lại thành thơi thả hồn theo những cánh diều. Cứ mỗi chiều về, khi ông mặt trời đã lững thững phía trời tây, bên lũy tre làng, trên những ruộng đỗ, bãi ngô vừa qua mùa thu hoạch lại lao xao tiếng nói tiếng cười. Những “lão nông tri điền” quần còn “ống thấp, ống cao”, bàn chân còn dính đầy bùn đất, họ ngồi bệt ngay trên bờ cỏ mướt xanh, ngả mình ngắm những cánh diều thả mình trong gió. Không chỉ có cánh đàn ông, cả các bà, các mẹ cho đến lũ trẻ chúng tôi cũng góp phần cho cảnh chiều quê thêm phần chộn rộn. Kẻ đứng, người ngồi trò chuyện râm ran. Mấy cụ già phe phẩy chiếc quạt mo cau, cặp mắt nheo nheo dõi theo những cánh diều như những chiếc lá đa gắn trên nền xanh của khoảng chiều thu còn vàng sắc nắng. Những chiếc diều quê tôi không nhiều sắc màu lòe loẹt, nó bình dị đơn sơ màu đất quê hương , một mảnh đất bạc màu. Với đôi cánh thon nhọn vút cong, trông chúng cũng giống như mảnh trăng non giữa trời chiều dần tắt nắng. Nhìn xa hơn về phía chân trời, những cánh diều lướt trên những khóm mây trắng bạc như đoàn thuyền đang rẽ sóng ra khơi. Chúng chen vai nhau thả sức vươn lên giữa trời cao lộng gió. Không biết thú chơi diều của người dân quê tôi có từ bao giờ, nhưng theo nhiều người thì nó đã có từ lâu lắm rồi. Những thanh tre vừa dẻo vừa vững chắc được làm nên những chiếc diều với nhiều hình dạng khác nhau.Có loại diều hai đầu cánh nhọn và cong đều, gọi là “diều cánh cắt” , có loại chỉ uốn cong nhiều ở hai đầu cánh và ít nhọn hơn, gọi là “diều cánh bầu”, “ diều cánh cốc ”, “ diều én ”v.v.. Tuy vậy tùy thuộc vào khả năng và tài nghệ của từng người mà họ làm những chiếc diều to, nhỏ khác nhau đủ các cỡ. Có những chiếc diều có sải cảnh hai, ba mét. Phía trên đầu của mỗi chiếc diều còn được gắn thêm những cây sáo. Nào là “Sáo Chiêng”, “Sáo Côồng ”, âm thanh nó phát ra như tiếng chiêng, tiếng côồng trầm hùng đĩnh đạc ngân vang suốt mọi nẻo đồng quê. Đây là loại sáo lớn nhất, đường kính ống sáo có lẽ gần mười phân, thân ống sáo cũng dài đến ba, bốn mươi phân. Loại nhỏ hơn là “Sáo Hiệu”, tiếng sáo lại “tu, tu” gần giống tiếng tù và. Rồi “Sáo đẩu” kéo lên âm thanh rền vang như giọng nam trung. Nhỏ nhất có lẽ là sáo còi, lời sáo trong veo, réo rắt ngân vang tới tận chân trời. Tuy vậy tiếng sáo mỗi chiếc diều lại rất riêng. Tuy cùng một loại sáo nhưng chúng cũng có tiếng trong, tiếng đục , tiếng nhặt, tiếng khoan, khi cao, khi thấp. Dàn giao hưởng đại nhạc sáo diều cứ âm vang hòa quyện trong gió thu man mác, lâng lâng. Nó bay vút lên cao thả hồn trong màu xanh bất tận, lại hiền hòa xà xuống quấn quýt bên lũy tre làng. Tiếng sáo diều như một bản tình ca bất tận đưa mọi người xích lại gần nhau, làm vợi đi bao nhọc nhằn vất vả, rạo rực tuổi thơ, thư thái lòng già. Tiếng sáo diều nối ngày với đêm cho cảnh làng quê bớt phần tăm tối. Nhất là những đêm trăng thanh gió mát, mượn tiếng sáo diều cho lứa trẻ trao duyên.
Tiếc thay thú chơi diều đã chấm dứt khi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ lan đến quê tôi. Những chiếc diều khổng lồ do các nghệ nhân ngày ấy làm đã không còn nữa. Không biết có khi nào người dân quê tôi mới lại được đằm mình trong những chiều vàng sắc nắng, thư thái cõi lòng theo những cánh diều cao vút giữa trời xanh. Những đêm gió mát, trăng thanh, khúc nhạc mê hồn đưa họ về với giấc ngủ nồng say sau một ngày vất vả. Dẫu sao cũng cám ơn đời đã cho bà, cha, mẹ tôi, tôi và cả những con người cùng thế hệ ấy có những năm tháng bình yên, hạnh phúc tuyệt trần.
Tháng 8 năm 2011
Nguyễn Hữu Thắng
Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011
Ký ức về khoảng bình yên giữa hai cuộc chiến
Miền Bắc hoàn toàn giải phóng sau hiệp định Giơ -Ne - Vơ năm 1954. Quê hương tôi cũng dần “ thay da đổi thịt ” . Khi màn đêm dần chạy chốn, rộn rã khắp xóm thôn tiếng gà gọi bình minh. Những tiếng gà vang ngân, trong như giọt sương đêm, bừng tỉnh những giấc mơ ngọt ngào của những người dân miền quê đang đổi mới. Đâu đó tiếng trẻ oa oa như điểm nhấn trong bức tranh cuộc đời hạnh phúc tràn đầy. Phía trời đông dìu dặt cánh cò, gió chạy lao xao qua những rặng tre hàng trăm năm tuổi. Dưới mái tranh nào tiếng nói, tiếng cười vọng xa như nụ hoa chớm nở trên nhành mận tơ non vừa hé chồi xuân. Những buổi sáng thanh bình cứ bồng bềnh nhẹ ru tôi suốt chặng đường năm tháng. Khi ánh bình minh trải những sợi tơ trời vàng óng vắt qua những ngọn cây, xà xuống từng mái tranh quê là lúc mọi người ai vào việc nấy, không khí đông vui dồn hết chốn cổng làng. Kẻ gồng, người gánh, cái cuốc, cái cào trải dần ra trên cánh đồng xanh màu khoai, lúa. Trong lũy tre làng bao trùm một không khí yên tĩnh vô cùng, chỉ còn lao xao tiếng gà cục tác, tiếng chim cu gù trên những ngọn tre. Tất cả cùng hòa quyện vào nhau như những gam nền cho bản nhạc say đắm muôn đời, ấm giọng ầu ơi tiếng bà ru cháu, tiếng võng tre kẽo kẹt đong đưa. Những âm thanh dù chỉ nhẹ nhàng thôi cũng đủ vang xa đầu thôn, cuối xóm. Có phải chăng làng quê bấy giờ có lũy tre xanh bao bọc, như bức tường thành ôm trọn bản nhạc quê. Quanh làng tôi bấy giờ là lũy tre cao ngất. Những cây tre đời này tiếp đời khác, chen chúc, tay níu chặt tay. Không ai biết lũy tre làng tôi có tự bao giờ, chỉ thấy dưới lớp lá dày lẫn trong màu đỏ hung của đất là tầng tầng, lớp lớp bao gốc tre già nhường chỗ cho lứa măng non. Chúng quấn quýt, đan xen, bế bồng nhau truyền đời, truyền kiếp, để lũy thành ngày càng rộng càng cao. Muốn ra khỏi làng phải qua tám cổng làng hướng về bốn phía. Trước làng có cổng Giếng trên, cổng Giếng Đồng, cổng Sang, cổng Tỵ. Đầu làng có cổng Thượng, sau làng còn có cổng Hầu, cổng Lác, cổng Chùa. Khi tôi đã biết, một số cổng làng đã bị phá, như cổng giếng trên, cổng Hầu, cổng Lác, cổng Chùa. Các cổng khác được xây bằng gạch chắc chắn, bề thế. Mỗi cổng đều có đôi cánh gỗ dày, then cài trong vững chãi. Nền cổng, bậc bước xuống đồng thường lát bằng những phiến đá to hoặc những hàng gạch vỉa nghiêng vẹt mòn những vết chân tần tảo. Trên nóc cổng là vọng gác của làng những ngày đầu kháng chiến chống Pháp.
Tre làng tôi còn xanh tốt đến mọi nhà. Có nhà ai không có một vài khóm tre, nhiều nhà còn có cả lũy tre dày đặc bao quanh đất ở. Bởi vì nhà ai đất đai cũng rộng , vườn tược bỏ hoang nhiều. Xóm làng dân cư thưa thớt chứ đâu có đông đúc như bây giờ. Gianh giới giữa mọi nhà chủ yếu là những hàng cây dại bám theo mấy ngọn tre rào tạm. Chỉ có một số nhà khá giả là có cổng, còn hầu hết mở lối "tự do", cẩn thận hơn là có cành giong rấp lại khi đêm về. Tôi mãi yêu, mãi nhớ, cứ ước ao cái làng quê tôi còn mãi trên đời, dẫu vẫn biết đó là điều không thể ! Bởi trong đó chỉ có những con người mộc mạc, dịu hiền như những mái tranh quê. Họ sống với nhau chân tình, cởi mở. Dẫu giàu, nghèo thì cũng chẳng có ai cần đến cửa giữ nhà, chỉ có tấm liếp che mưa, chắn nắng. Hầu hết nhà tranh quê tôi đều không xây tường phía trước ba gian giữa, mà thường chắn bằng khại, liếp đơn sơ. Mỗi khi vắng nhà người ta kéo kín cửa lại vừa như báo hiệu nhà đi vắng cả, vừa để không cho gà qué vào quấy bẩn mà thôi. Đâu có phải chỉ ban ngày mà cả đêm tối nữa. Trong những dịp hội hè, tết nhất người ta còn tổ chức hát tuồng, hát chò, cải lương. Những khi đó già, trẻ, gái , trai nhà nào mà chẳng nô nức đi xem. Họ chỉ cần buông tấm liếp hoặc kéo cái khại cho có vẻ kín đáo, có nhà ai biết cái khóa cửa là gì.
Tôi vẫn tự hỏi lòng, có thật một thời thần tiên như thế. Mặc nhiên nó đã từng tồn tại trên đời…
Tháng 8 năm 2011
Nguyễn Hữu Thắng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







